Hãy chia sẻ tới gia đình ,bạn bè và người thân của bạn để mọi người hiểu rõ hơn về bản sắc quê hương Kim bôi thân yêu các bạn nhé

  • facebook.com/kimboihoabinh.vn

  • youtobe/kb chanel

  • email: success.hc@gmail.com

  • Trang

    Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

    Cháy nhà Lang cuối cùng của người Mường


    Vào bảo tàng tham quan, 2 đôi nam nữ tự ý đốt bếp lửa trong nhà sàn để nướng ngô. Khi lửa bùng lên, họ liền lên ôtô bỏ chạy.
    Vụ việc xảy ra tối 24/10 tại Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình). Ngôi nhà Lang cuối cùng của người Mường này là nhà sàn của vị quan Lang duy nhất còn sót lại và đang được bảo tồn. 
    nha-lang-1-1395-1382752621.jpg
    Ngôi nhà Lang bị đám cháy thiêu rụi. Ảnh: Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường.
    Theo thông tin từ phía bảo tàng, một nhóm khách (gồm 2 nam, 2 nữ) đi 2 ôtô vào bảo tàng tham quan rồi tự ý đốt lửa ở bếp trong nhà Lang để nướng ngô. Khi ngọn lửa bùng phát, những khách này đã hoảng loạn, không kêu trợ giúp mà lên ôtô bỏ chạy. Bị 3 nhân viên bảo tàng ngăn lại, những người này đã húc xe thẳng vào họ.
    Các nhân viên, cán bộ Bảo tàng Mường đã gọi cảnh sát trợ giúp. Tuy nhiên, do tuyến đường từ thành phố Hòa Bình vào bảo tàng đang được sửa chữa nên 30 phút sau, xe cứu hỏa mới tới. Khi đó, nhà Lang với kết cấu chủ yếu bằng hệ khung gỗ, sàn vách gỗ, mái cọ đã cháy rụi.
    Gần 200 hiện vật nguyên bản của nền văn hóa Mường như bộ cồng chiêng, bộ sưu tập súng săn, đồ đồng sinh hoạt… cũng bị lửa tàn phá.
    chay-nha-lang-2-2436-1382701831.jpg
    Ngôi nhà Lang 100 tuổi là nơi lưu giữ gần 200 hiện vật nguyên bản tái hiện đời sống của người Mường được cán bộ bảo tàng tìm kiếm và sưu tập suốt 15 năm. Ảnh: Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường.
    Ông Vũ Đức Hiếu, Giám đốc Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường cho hay, vụ cháy gây thiệt hại nghiêm trọng về giá trị vật chất và tinh thần.
    "Ngôi nhà Lang hơn 100 tuổi là công trình kiến trúc nguyên bản của của gia đình quan Lang - tầng lớp cao nhất trong xã hội người Mường. Gần 200 hiện vật được Bảo tàng vất vả tìm kiếm và sưu tập trong gần 15 năm cũng bị thiêu rụi. Đây là tổn thất nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần cho bảo tàng nói riêng và cả nền văn hóa Mường nói chung. Bởi nhà Lang và các hiện vật nguyên bản trong đó không thể tái hiện", ông Vũ Đức Hiếu nói.
    Sáng nay 26/10, trao đổi với VnExpress, thiếu tướng, Giám đốc Công an tỉnh Hòa Bình Bùi Đức Sòn cho biết, cơ quan chức năng đang làm rõ nguyên nhân hỏa hoạn. Hiện, nhà chức trách chưa xác định được nhóm thanh niên tình nghi gây ra sự việc.
    “Khi xảy ra cháy trong khu nhà này còn nhiều người khác nên chưa thể kết luận về thủ phạm”, ông Sòn nói. Công an tỉnh đang phối hợp với Sở Văn hóa xác định thiệt hại vụ cháy. Ước tính ban đầu, bên cạnh những giá trị văn hóa, thiệt hại vật chất là hàng trăm triệu đồng.
    (theo vnexpress)

    Văn hóa Mường trong mắt nghệ sĩ quốc tế


    Văn hóa Mường trong mắt nghệ sĩ quốc tế
    Văn hóa Mường trong mắt nghệ sĩ quốc tế
    Những tác phẩm hội họa chưa từng công bố từ sự kiện “Nghệ thuật dưới mái nhà sàn” năm 2012 được trưng bày trong một triển lãm riêng.
    Sự kiện nghệ thuật quốc tế “Nghệ thuật dưới mái nhà sàn” diễn ra từ ngày 17 đến 26/10/2012. Ngay sau khi diễn ra workshop, một phần tác phẩm đã được trưng bày tại Đại học Văn hóa Hà Nội. Tuy nhiên, phần lớn tác phẩm của dự án chưa được biết tới. Số này vừa được ra mắt công chúng trong triển lãm “Nghệ thuật dưới mái nhà sàn - Những tác phẩm chưa từng công bố” tại Hà Nội.
    4-jpg-1360123994-1360124120_500x0.jpg
    Một tác phẩm trưng bày trong triển lãm.
    Là workshop lớn với sự tham gia của 68 nghệ sĩ đến từ 14 quốc gia trên thế giới, “Nghệ thuật dưới mái nhà sàn” là cái nhìn đa chiều về văn hóa đất Mường của nghệ sĩ Việt và quốc tế. Các nghệ sĩ đến từ Mông Cổ, Nga, Italy, Đài Loan được đánh giá là từng trải trên trường nghệ thuật quốc tế, mang đến những hình ảnh đầy tính nghệ thuật, trong khi các nghệ sĩ Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipinnes đem đến những sáng tạo bất ngờ.
    Các nghệ sĩ trên có 9 ngày thâm nhập, tìm hiểu văn hóa và làm việc ở Hòa Bình. Họ đã quan sát tinh tế về đời sống, con người, thiên nhiên, văn hóa xứ Mường. Có họa sĩ tái hiện núi rừng thiên nhiên tươi đẹp cùng những nếp nhà sàn đất Mường trong tranh; có người chọn vẽ cô gái Mường xinh đẹp; có người thấy hứng thú với đặc sản “lợn Mường”. Những hoa văn trong thổ cẩm Mường cũng gợi cảm hứng sáng tác cho nhiều họa sĩ. Bên cạnh đó, một số đại diện quốc tế thích thú và sáng tác dựa theo truyền thuyết dân gian của người Mường.
    Triển lãm “Nghệ thuật dưới mái nhà sàn - Những tác phẩm chưa từng công bố” khai mạc ngày 31/1 và kết thúc vào ngày 18/2 tại 42 Yết Kiêu, Hà Nội.
    (theo vnexpress)

    Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

    TỤC NGỮ DÂN TỘC MƯỜNG



    trang phục của thiếu nữ mường

    I- Đặt vấn đề : 

    Đã có nhiều tác giả nghiên cứ­u rất công phu kho tàng văn nghệ dân gian Việt Nam , về phạm vi tục ngữ có thể kể tên , ví dụ như Trần Danh An ( Kinh Bắc ) , Nguyễn Văn Ngọc ( đầu thế kỷ 20) , rồi sau đó Vũ Ngọc Phan , Nguyễn Xuân Kính ,Cao Sơn Hải, Nguyễn Nghĩa Dân... Tác phẩm của họ có thể tìm thấy ở các Thư­ viện trong và ngoài nư­ớc.
    Kho tàng văn học truyền miệng luôn tồn tại song song với văn học hàn lâm , bác học. Nó phản biện nhau, đối chứng và bổ sung nhau , nó giúp cho những thế hệ sau có thêm cái nhìn hoàn chỉnh về chế độ đư­ơng thời khi ấy.
    Văn hoc bác học hàn lâm thư­ờng được trả lư­ơng bổng của Vua Chúa , nên hết lời ngợi ca Vua chúa, còn ngư­ợc lại , văn học truyền miệng thì tự phát khách quan vô tư­ ghi lại những kinh nghiệm "một nắng hai sư­ơng", hoặc " máu chảy đầu rơi " trong chiến tranh " kỷ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ".
    Kiến thức văn nghệ dân gian là những viên ngọc quý , nó gần như­ có giá trị vĩnh cửu , giúp cho cháu con ' hoà thuân với thiên nhiên ' , ấm áp với láng giềng để giữ nư­ớc và dựng nư­ớc trư­ờng tồn.
    Với tư­ liệu hạn chế , trong bài viết này , chúng tôi xin góp thêm một vài thiển kiến về Tục ngữ của Dân tộc Mư­ờng; kỳ vọng gửi một thông điệp nho nhỏ đén các độc giả newvietart.com

    II- Tục ngữ Mư­ờng rất gần gũi với ngư­ời Kinh : 

    Theo các tác giả kể ở trên, chúng tôi tra cứu thì Tục Ngữ Mư­ờng rất gần gũi với ngư­ời Kinh.
    Nếu đư­a ra ví dụ thì có thể có nhiều câu tục ngữ , Mư­ờng - Kinh giống nhau như­ " hai giọt nư­ớc".
    Xin phép xin đư­a ra một vài ví dụ (theo ABC):

    Ăn no mặc ấm
    Ăn đư­a xuống , uống đư­a lên
    Đánh chó không nể chủ
    Đói ăn vụng túng làm càn
    Đêm nằm năm ở
    Đi hỏi về chào
    Đứt dây động rừng
    Cái khó bó cái khôn
    Có tật giật mình
    Ch­a nóng nư­ớc đã đỏ gọng
    Của biếu của lo của cho của nợ
    Của chồng công vợ
    Con sâu làm rầu nồi canh
    Gà cỏ trở mỏ về rừng
    Gà tức nhau tiếng gáy
    Gần đâu xâu đấy
    Giàu bán ló (lúa) , khó bán con
    Giận mắng lặng thư­ơng
    Lo bò trắng răng
    Một năm làm nhà , ba năm trả nợ
    Mèo già hoá cáo
    Ném đá giấu tay
    Rẻ tiền mặt đắt tiền chịu
    Thư­ơng nhau lắm cắn nhau đau
    Trong nhà chư­a tỏ ngoài ngõ đã hay
    Việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng
    Xởi lởi trời gửi của cho , bo bo trời co của lại
    Xấu hay nói tốt , dốt hay nói chữ
    Yêu trẻ , trẻ đến nhà , yêu già già để tuổi cho

    Có thể bạn đọc nghi ngờ về sự giống nhau như­ " hai giọt nư­ớc " này.

    Các bạn có thể suy nghĩ theo các chiều hư­ớng sau đây :
    Cũng có thể do sư­u tầm nhâm từ dân tộc này sang dân tộc kia, cũng có thể vợ Kinh chồng Mư­ờng , hoặc vợ Mư­ờng chồng Kinh , đến đời con cháu có sự giao thoa văn hoá giữa hai dân tộc, như­ng có lẽ tư­ duy về tục ngữ của hai dân tộc cũng na ná giống nhau.
    Có ngư­ời đã viết thành sách , Kinh Mư­ờng có cùng một gốc. Có giả thiết cho rằng ngư­ời Kinh thì ở đồng bằng bị ngoại xâm liên miên đã bị đồng hoá nhiều , còn M­ường thì tránh né vào các thung lũng , nên vẫn bảo tồn đ­ợc văn hoá nguyên sơ của minh!
    Dù giả thiết khác nhau , như­ng thông điệp hai dân tộc để cho đời sau đều rất có giá trị rất nhân bản - nhân văn vĩnh hằng.

    III- Tính thời sự của Tục ngữ Mư­ờng : 

    Cả dân tộc Việt Nam phải hội nhập mạnh mẽ , sâu sắc hơn với khu vực , hội nhập quốc tế mới tồn tại đư­ợc , như­ vậy dân tộc Mư­ờng cũng không thể nằm bên lề sự nghiệp hội nhập dữ dằn này .
    Kho tàng tục ngữ dạy cháu con ngư­ời Mư­ờng và cho cả ngư­ời Việt nam ta vẫn còn có tính thời sự rất nóng hổi . Ví dụ dư­ới đây , chúng ta ngẫm nghĩ , vẫn con nguyên giá trị , đọc nó , trái tim chúng ta vẫn còn xúc động:

    Về Đoàn kết :
    Một ngư­ời đàn ông không làm nổi nhà , một ngư­ời đàn bà không làm nổi khung dệt

    Về Bố mẹ :
    Ăn cá mới biết cá có xư­ơng , nuôi con mới biết thư­ơng bố mẹ

    Về Anh em :
    Anh em liền khúc ruột
    Làm em thì dễ làm anh thì khó

    Về Ngư­ời già :
    Nói dối ngư­ời già , mọc nhọt ở mắt

    Với khách :
    Khách đến nhà không đánh chó , khách đến ngõ không mắng mèo
    Khách đến nhà không gà cũng lợn

    Về Giàu nghèo :
    Giàu giữa làng , sang giữa mư­ờng

    Sự Hổ thẹn :
    Ai ăn trộm ngỗng cổ ngư­ời ấy cao

    Về Danh dự :
    Bò chết để da, ngư­ời già chết để tiếng để lời

    Về Ân tình :
    Ăn cây đào , rào cây đào

    Về Bản tính :
    Sinh con không ai sinh lòng, sinh muông thú không sinh sừng

    Với Bạn bè :
    Bạn xa quê cũng thư­ơng , bạn trong mư­ờng cũng nhớ

    Nói về cái ác:
    Kẻ ác có lông hùm treo trong bụng

    Về Thói kiêu ngạo:
    Qua truông buông gậy
    Qua truông đám buồi cho cọp
    v.v...

    IV Kết Luận : 

    Tục ngữ là những câu nói hàm xúc , ngắn gọn , dễ hiểu để truyền dạy từ đời này qua đơì khác . Tục ngữ Mư­ờng là một bộ phận quý báu trong kho tàng tục ngữ nói riêng và văn học truyền miệng nói riêng , cần được bảo tồn trư­ớc cơn lũ hội nhập vào Việt Nam ./.

    nguồn sưu tầm

    Nguồn gốc người Việt, người Mường - Một giả thuyết khác

    người mường

    Vấn đề nguồn gốc người Việt, người Mường, rộng ra nguồn gốc dân tộc Việt Nam, là một câu hỏi cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Trong cuộc tìm kiếm lâu dài, từ huyền thoại đến khoa học, đã dần dần hình thành nên hai mô hình tìm kiếm. Một là giả thuyết tiến hóa - bản địa, tức cội nguồn của người Việt (và các cư dân khác sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay) là người bản địa do sự tiến hóa xã hội mà thành. Những sự giống nhau về văn hóa giữa những cư dân bản thổ của quốc gia này với/ của quốc gia khác chủ yếu do sự phát triển tương ứng trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội tương tự nhau. Hai là giả thuyết truyền bá - thiên di, coi người Việt là những hậu duệ xa xôi từ phía Bắc thiên di tới thành nhiều đợt do những biến động xã hội diễn ra nhiều lần trong lịch sử. Cơ sở văn hóa của thuyết thiên di cho rằng các phát minh lớn chỉ diễn ra một lần, ở một nơi nào đó vào một thời nào đó, về sau được truyền bá đi các nơi khác, qua một quá trình hỗn dung vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính áp đặt gắn liền với trao đổi hôn nhân, buôn bán làm ăn, chiến tranh.
    Nguồn gốc người Việt, người Mường. Tạ Đức. nxb Tri thức. Hn.2013

    Trong cuộc tìm Nguồn gốc người Việt - người Mường (Nxb Tri Thức, H., 2013) của mình, Tạ Đức theo giả thuyết thứ hai, truyền bá - thiên di. Anh bắt đầu từ chỗ phải bắt đầu là trả lời câu hỏi ai là chủ nhân của các nền văn hóa Phùng Nguyên (Đá mới) và văn hóa Đông Sơn (Đồng thau). Hay nói khác, văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn bắt nguồn từ văn hóa nào trên lãnh thổ Việt Nam trước đó? Sau khi đã trình bày một cách khách quan các giả thuyết đã có trước đó của các học giả Việt Nam và nước ngoài về văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn, Tạ Đức mới trình bày giả thuyết của mình. Văn hóa Phùng Nguyên theo anh, là của người Đản (Mân - Đản) từ Phúc Kiến - Quảng Đông di cư đến Việt Nam thời Đá mới. Đó chính là tổ tiên của người Mường hiện nay. Việc này đã tạo ra một tiền lệ cho các cuộc di cư về sau vào thời Đông Sơn, hoặc sau này trong đó có nhiều vua chúa Việt Nam có nguồn gốc Mân, Đản, như Lý, Trần, Hồ. Còn nguồn gốc của văn hóa Đông Sơn và nhà nước Văn Lang là do cuộc di cư đầu tiên của người Lạc Việt. Sau đó liên tiếp là các cuộc thiên di của người Ư Việt, Thục, Điền, Dạ Lang - những tộc người chung cội nguồn Lạc Việt - đã làm cho Văn Lang trở thành trung tâm của một liên minh Bách Việt. Có thể, mối liên hệ cội nguồn này khiến Văn Lang trở thành vùng đất mới mà cũ cho sự hội tụ của người Lạc việt, những người không chịu khuất phục, dám nổi dậy và dám ra đi tìm tự do, độc lập. Như vậy, giả thuyết về người Đông Sơn và văn hóa Đông Sơn gắn với các cuộc thiên di của người Bách Việt của Tạ Đức về cơ bản là phù hợp với các giả thuyết đã có trước đấy của nhiều học giả trong ngoài nước. Nhưng nhất quán hơn và, do đó, thuyết phục hơn.
    Những chứng cứ để Tạ Đức xây dựng lên giả thuyết của mình thuộc về một liên ngành văn hóa - lịch sử rộng lớn, nhưng chủ yếu gồm khảo cổ học, ngôn ngữ học lịch sử và dân tộc học. Tác giả đã tập hợp được một khối tư liệu khổng lồ từ các di chỉ khảo cổ của các tộc người Việt thời tiền sử và sở sử từng sống trên lãnh thổ Trung Hoa ngày nay, sắp xếp chúng theo trật tự thời gian, rồi so sánh theo loại hình để tìm ra sự tương đồng, sự tiến triển hay thoái lùi, của nhiều hiện vật để từ đó lần theo dấu chân thiên di của họ từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, như trống đồng, rìu, dao găm cán hình người. Nguồn tư liệu thứ hai: từ tên gọi tộc người, tên gọi (đất) nước, tên gọi các con sóng lớn, các ngọn núi thiêng, bằng các phương pháp ngữ âm học lịch sử, Tạ Đức đã khôi phục lại được mối liên hệ của người Đông Sơn và các tộc người tiền thân của mình qua quá trình di cư và quá trình biến đổi ngữ âm và ngôn ngữ bị Hán - Việt hóa làm cho sai lệch đi và trở nên xa lạ với nhau. Ở đây, tác giả đã phát hiện ra nguyên tắchọ từ người, tức các từ có họ hàng với nhau cả về âm và nghĩa thì đều có gốc từ các từ chỉ người. Tạ Đức đã coi đó như một thứ gien ngôn ngữ và dùng nó để nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử tộc người. Ví dụ, tên gọi Giao Chỉ đến nay có nhiều cách giải thích khác nhau chủ yếu theo kiểu triết tự hay từ nguyên học dân gian. Thực ra, Giao Chỉ, theo Tạ Đức, là từ phiên âm của tên gọi tộc người có nghĩa là đất của người Giao. Từ này có họ hàng với các tên gọi Chrao, Brâu, Pu Lao, Bjao. Cụ thể hơn, Giao là phiên âm tên gọi Lao của người Lava - Lạc Việt. Chính từ tên tự gọi Lao đó, mà người Mường gọi người Việt Đáo/ Táo, người Thái gọi người Việt là Keo, người Hán gọi người Việt là Jiao/ Giao và tạo nên từ Giao Chỉ. Nguồn tư liệu thứ ba, so với hai nguồn đầu có vẻ yếu hơn, dù là nghiệp nghề chính của Tạ Đức, là dân tộc học. Tuy vậy, những so sánh biểu tượng học tộc người, phong tục tập quán, tín ngưỡng thờ phụng của Tạ Đức ở cuốn sách đã làm sáng tỏ thêm rất nhiều vấn đề tác giả trình bày.
    Giảthuyết vềnguồn gốc người Việt - người Mường của TạĐức là một cái nhìn nhất quán, xuyên suốt qua một rừng các tưliệu, cứliệu, luận chứng, luận điểm. Một giảthuyết lịch sử, dĩnhiên, không thểquảquyết đúng một trăm phần trăm được, nên tốt nhất là nhìn vào hiệu quảsửdụngcủa nó. Giảthiết TạĐức giải quyết được nhiều vấn đềcòn tồn đọng ởdạng tranh cãi, hay bất lực trong huyền sửvà lịch sửViệt Nam. Nhưcác vấn đềbiên giới Văn Lang, tên gọi CổLoa, yếu tốphương Tây trên hoa văn trống đồng..., đặc biệt là giảthuyết vềngười Mường là do người tiền Việt Mường mới tách ra từkhoảng thếkỷVII, VIII. Đồng thời, nó cũng không phủnhận sạch trơn các giảthuyết khác, thậm chí thu nhận chúng vào hệthống của mình sau khi đã được giải thích lại. Trước đây, đọc những tìm vềnguồn gốc dân tộc của một sốngười gần đây đặc biệt là của học giảKim Định, người ta vừa tin lại vừa ngờ. TạĐức đã khiến chúng ta thấy cái gì đáng tin thì càng tin thêm và cái gì đáng ngờthì đủcăn cứngờhẳn và xóa bỏnó ra khỏi sựnghiên cứu. Bởi lẽ, người đọc hiểu rằng sựkhông/ chưa thuyết phục của các giảthuyết ấy là đã đẩy một yếu tốnào đó thành hệthống và chủnghĩa dân tộc là nguyên nhân (ga đi) và cũng là đích đến của những hành trình tìm kiếm ấy.
    Kể từ cuốn sách đầu tiên, Nguồn gốc và sự phát triển của Kiến trúc - Biểu Tượng và Ngôn ngữ Đông Sơn[1](Hội Dân tộc học - Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, Nxb, Hà Nội, 1999), đến cuốn sách nàyNguồn gốc người Việt, người Mườnglà 14 năm. Dành toàn bộ thời gian và tâm lực hơn một thập kỷ cho một cuốn sách là điều ở Việt Nam ta hiện nay không phải ai cũng làm được. Các cán bộ khoa học, ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ cơ quan còn phải dạy học, viết báo, làm đề tài khoa học, để nuôi sống gia đình và bản thân, nên phải có tinh thần vượt khó lắm mới đến được với học thật/ thuật. Sản phẩm của họ, vì thế, cũng chỉ ở dạng tầm tầm. Ngày nay, khoa học nào cũng là liên khoa học, nên đòi hỏi người làm khoa học phải có kiến thức chuyên/ liên ngành. Điều này đỏi hỏi phải có đầu tư lớn, tức phải giàu. Tạ Đức may mắn từ lâu đã là một nhà nghiên cứu độc lập. Anh lại không phải kiếm ăn, hay ít nhất kiếm ăn bằng kinh phí khoa học hoặc bằng làm quan khoa học, mà có đủ tiền để ngồi nhà đọc tư liệu, hoặc đi khảo sát thực địa cả ở trong nước lẫn nước ngoài. Lại phải biết nhiều ngoại ngữ, thạo intenet. Thành công của Tạ Đức, ngoài sự cống hiến cho người đọc một công trình táo bạo chững trạc, còn đưa ra một mẫu hình nhà khoa học kiểu mới, nhà khoa học vượt giàu! Giàu mà làm khoa học thì phải chiến thắng được bản năng hưởng thụ. Giàu mà làm khoa học thì lòng yêu khoa học ấy ắt phải là “khoa học vị khoa học”. Một xã hội lành mạnh là một xã hội có nhiều người giàu, nhất là nhiều người giàu làm khoa học.
    Tuy vậy, rốt ráo chứng minh giả thuyết của mình, Tạ Đức một mặt tạo ra được sự nhất quán trong lập luận, nhưng mặt khác lại vướng vào sự nhất thể hóa khô cứng. Những người đọc ủng hộ giả thuyết truyền bá - thiên di cũng có quyền đòi hỏi tác giả cho biết thêm vai trò của cư dân bản địa trước khi người Việt cổ di cư đến bởi lúc bấy giờ trên mảnh đất này không thể nào là mảnh đất trống. Họ có vai trò gì trong việc người Mán Việt làm nên văn hóa Phùng Nguyên? Và người Phùng Nguyên sau đó có vai trò gì trong việc người Lạc Việt làm nên văn hóa Đông Sơn, vì lúc này họ cũng đã trở thành người bản địa rồi? Hay đơn giản Phùng Nguyên, Đông Sơn chỉ là các nền văn hóa thuần túy thiên di? Sự nhị phân của phương pháp cấu trúc cần phải được giải cấu cho thuyết phục hơn, và hẳn là thực tế hơn.

    [1]Hội Dân tộc học - Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á xb, Hà Nội, 1999.

    Một số tín ngưỡng đặc trưng của người Mường

    Với người Mường cư trú ở các tỉnh miền núi phía Bắc, tín ngưỡng giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần cũng như sinh hoạt, lao động của họ.
    Các dân tộc miền núi phía Bắc có rất nhiều tín ngưỡng thờ phụng. Đối diện cuộc sống nơi núi cao hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, họ càng cần nhiều hơn niềm tin tâm linh, làm chỗ dựa để vượt qua những khó khăn. Trong số đó, phải kể đến các tín ngưỡng độc đáo của dân tộc Mường.
    Tín ngưỡng thờ đá
    Người dân tộc thường thờ những hòn đá có hình thù kỳ lạ, liên tưởng đó là các vị thần, thánh đã giúp con người chinh phục thiên nhiên. Tục thờ đá được thể hiện rõ nét nhất ở trong lễ mừng nhà mới với các ông đầu rau (hòn nục chủ và hai hòn nục treo), thờ các vị chư thần thổ địa, thờ thần đá (bụt mọc).
    Người dân tộc Mường ở Cao Phong (Hòa Bình), ngày nay vẫn còn tồn tại truyền thuyết về thần đá. Bấy giờ, khi khơi dòng lấy nước làm ruộng, gặp phải hòn đá chắn dòng, người dân bẩy đi chỗ khác để nước tiêu thông. Hôm sau, kỳ lạ thay khi hòn đá đã trở về chỗ cũ. Người dân lại tiếp tục đẩy xa hơn nữa nhưng liên tiếp nhiều ngày, sự lạ vẫn tiếp diễn. Theo lời thầy cúng, người dân bèn mang đá về thờ. Từ đó cuộc sống được thần đá phù hộ, khiến mưa thuận gió hòa. Tục thờ thần đá cũng có từ lúc đó.
    Tín ngưỡng thờ cây
    Người Mường cho rằng có những loài cây có tính linh thiêng, là nơi trú ngụ của các lực lượng siêu nhiên, người dân tộc coi việc thờ cây có ý nghĩa quan trọng. Các loại cây được tôn làm vật thiêng và thờ cúng là si, chu đồng, đa, gạo… Thậm chí, nhiều loại cây xuất hiện rất sớm trong các tác phẩm văn học dân gian truyền miệng, điển hình như tác phẩm “Đẻ đất, đẻ nước” của người Mường (Hòa Bình).
    Một số dân tộc khác còn có tục thờ mía trong các đám tang hay trở thành lễ vật trong đám cưới truyền thống. Trong các ngày lễ mừng cơm mới, họ còn có tục thờ lúa nương, với quan niệm cây lúa cũng có linh hồn, nếu chăm chỉ cầu khấn, lúa Mẹ sẽ gọi vía các lúa con về sinh sôi nảy nở, giúp cho cuộc sống của người dân thêm no đủ.
    Tín ngưỡng thờ động vật
    Cuộc sống nơi núi rừng hàng ngày đều đối mặt với các loài muông thú, đa phần các dân tộc đều cho rằng thú rừng như hổ, hươu, nai… đều là những con vật linh thiêng, vừa là nguồn thức ăn quý giá, vừa là vật tế lễ, chứa đựng những sức mạnh siêu nhiên. Nếu thờ cúng, người đi rừng sẽ tránh được tai họa, có thêm sức mạnh.
    Ngoài động vật trong rừng, các vật nuôi trong nhà như trâu, bò, lợn, gà… đều được cho là những con vật có linh hồn. Các bài văn nói trong đám tang cổ truyền của một số dân tộc có những đoạn kể tạ ơn các con vật đã gắn bó thân thiết với con người. Ví dụ khá độc đáo, người Mường có tục thờ Cóc, là loài đã có công gọi mưa và đem lại sự sinh sôi nảy nở cho dân bản, hình tượng cóc đã được đúc trên mặt các trống đồng ở Hòa Bình còn được lưu giữ đến nay. Trong các đám tang một số dân tộc, còn thấy xuất hiện các hình tượng cờ con cá, đại diện cho nước và cờ con hươu, đại diện cho trên cạn, cùng dẫn đường cho linh hồn người chết về với cõi trời.
    Tín ngưỡng dân gian đã tác động vào mọi mặt đời sống của người Mường, hình thành một hệ thống nghi lễ, phong tục tập quán bền vững trong sản xuất, đời sống xã hội và tâm thức, tình cảm, nếp nghĩ của mỗi người dân Mường. Tín ngưỡng đã đóng vai trò thiết yếu trong cuộc sống của con người và cộng đồng dân tộc. Sinh hoạt lễ hội diễn ra thường xuyên đã làm cho đời sống văn hóa tinh thần trở nên phong phú, góp phần quan trọng xây dựng kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc của người Mường.
    Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

    Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

    Kim Bôi Xóm đèn” khát ánh điện

    (HBĐT) - Tiểu khu 7, xóm Khả, xã Bắc Sơn (Kim Bôi) có 23 hộ sinh sống, tiểu khu được hình thành theo chương trình giãn dân của xã từ năm 2008. Tuy nhiên, cái tên tiểu khu 7 chỉ có trên danh nghĩa bởi từ lâu, người dân xã Bắc Sơn vẫn quen gọi tiểu khu này là “xóm đèn”. Nguyên nhân dẫn đến cái tên bất đắc dĩ này là vì sau gần chục năm giãn dân, người dân ở đây vẫn phải sống trong cảnh đèn dầu.

    Gia đình chị Bùi Thị Bảy chuyển về sống tại tiểu khu 7 từ năm 1993, trước khi có chương trình giãn dân của xã. Gần 20 năm sống ở đây, nhà chị vẫn chưa có điện thắp sáng, buổi tối mọi sinh hoạt trong gia đình đều trông chờ vào mấy chiếc đèn dầu. Nhìn quanh trong ngôi nhà nhỏ của chị Bảy không có mấy vật dụng đắt tiền chỉ có hai chiếc tivi, một cái lớn xếp trong góc nhà còn một cái nhỏ làm giá sách cho các con. Lý giải cho điều này, chị Bảy cười buồn, hai vợ chồng đi làm thuê ở ngoài thành phố, thấy người ta bán ti vi cũ, mua lại mang về hi vọng khi nào có điện thì mở cho các cháu xem nhưng ti vi mua về 2 – 3 năm nay rồi, không có điện, ti vi cũng chẳng có giá trị gì. Ngược lại, thứ có giá trị nhất đối với gia đình chị Bảy lại là một cái bình ắc quy, mấy chiếc đèn pin và một cái đài nhỏ chạy bằng 4 cục pin nối. Chị Bảy tậm sự: nhà có 4 người, bố mẹ không có điện thì không sao, chỉ thương các con, 12 năm đi học toàn học trong ánh đèn dầu tù mù, chưa được một ngày nào có điện thắp sáng. Văn nghệ, giải trí gì cũng chẳng có, may mà sắm được chiếc đài nhỏ, mọi tin tức từ dự báo thời tiết đến mùa vụ đều từ cái đài đó. Ngày mát thì không sao, những ngày nắng nóng cả nhà lại đưa nhau lên hang đá ăn ở trong ấy, đến tối mới lại về nhà.

    Gia đình anh Bùi Văn Luyện cũng là một trong những hộ đầu tiên về đây định cư. Cuộc sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và  đi làm thuê. Nhờ chịu khó tích cóp, gia đình đã xây được nhà mái bằng nhưng nhìn trong nhà không có vật dụng đồ điện nào. Anh Luyện chia sẻ: Nhờ chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của xã, mấy năm nay, gia đình đã cải tạo vườn tạp và trồng cây atiso nên thu nhập cũng đã cải thiện hơn trước đây. Kinh tế không phải quá khó khăn nhưng cuộc sống không có ánh điện thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Để có điện thắp sáng, gia đình tôi đã mua một bình ắc quy loại nhỏ, tuy nhiên cứ 3 ngày tôi lại phải mang bình vào tận trong xóm để nạp, mỗi lần nạp mất 1 ngày và hết 10 ngàn đồng.

    Nhà không có đồ điện, sống trong cảnh đèn dầu là thực trạng gần chục năm nay của 23 hộ dân tiểu khu 7, xóm Khả, xã Bắc Sơn. Anh Bùi Văn Toàn, Phó trưởng xóm Khả cho biết: trước đây, khu này chỉ có 7 hộ tự ra làm nhà tại đây đã đành, năm 2008, với chủ trương giản dân của xã, hơn 10 hộ đã tình nguyện ra đây sinh sống, xã phải có kế hoạch đầu tư đường điện để đảm bảo cuộc sống của người dân. Thực tế gần 10 năm không có điện, người lớn khổ đã đành, trẻ nhỏ khổ hơn gấp nhiều lần, ngày nào cũng phải học bài trong ánh đèn tù mù, nhiều cháu cũng vì nản mà bỏ học giữa chừng. Hiện, tiểu khu còn gần 20 cháu đang theo học phổ thông, nếu hỏi ước gì, các cháu chỉ ước là được học bài dưới ánh điện.

    Người dân phải sống trong cảnh không ánh điện, tuy nhiên nghịch lý ở chỗ tiểu khu này không phải là KDC nằm tách biệt và đường điện cao thế cách tiểu khu này chỉ khoảng vài chục mét, đó là đường điện kéo lên xóm Đằng Long, xã Bắc Sơn. “Cột điện chạy quanh làng nhưng dân trong làng lại không có điện”, lời nhận xét của ông Bùi Văn Rậm, một trong những người cao niên của xóm đã phản ánh đúng thực trạng của người dân “xóm đèn”.  Theo thông tin được biết, mới đây xã Bắc Sơn cũng đã được đầu tư nâng cấp hệ thống dây điện cũ toàn xã với mức đầu tư hơn 1 tỷ đồng, tuy nhiên tiểu khu 7, xóm Khả lại một lần nữa không có tên trong danh mục đầu tư và 23 hộ dân nơi đây lại phải tiếp tục chờ đợi trong cảnh đèn dầu.

    Khổ sở vì không có điện, nhiều hộ bức xúc bởi tiểu khu 7 được hình thành từ chương trình giãn dân của xã, nhiều năm sau khi tách khu về đây sinh sống, tất cả các hộ dân đều chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mọi khoản ủng hộ, đóng góp do xóm, xã phát động người dân đều đồng thuận hưởng ứng,  không hiểu vì lý do gì  sau rất nhiều năm thực hiện chủ trương của xã, người dân vẫn không được quan tâm để có một cuộc sống ổn định hơn. Bức xúc hơn nữa, Bắc Sơn là một trong những xã quyết tâm hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới năm 2015 và trong rất nhiều hội nghị, lãnh đạo xã đã báo cáo hoàn thành tiêu chí về điện với 100% hộ dân được sử dụng điện sinh hoạt. Trong khi thực tế, 23 hộ dân tiểu khu 7 vẫn hàng ngày đánh vật với cuộc sống khốn khổ không ánh điện. Bức xúc này, người dân mong chờ một câu trả lời thỏa đáng từ cấp ủy Đảng, chính quyền xã Bắc Sơn và huyện Kim Bôi trong thời gian sớm nhất.
                                                                                 
             
                                                                                         Đinh Hòa

    Vĩnh Đồng – xã có nhiều “cái nhất” ở Kim Bôi

    HBĐT) - Về Kim Bôi nhiều người đánh giá: không có xã nào như Vĩnh Đồng; đường xóm rộng nhất, cấy nhanh nhất, gặt nhanh nhất, trồng màu thu nhập cao nhất... Để mục sở thị câu nói trên, chúng tôi có dịp về Vĩnh Đồng.

    Sân nhà mình hẹp đi, đường xóm mình rộng hơn
    Trước cửa nhà ông Bùi Đức Hiển ở xóm Chiềng 5, Vĩnh Đồng trông như một công trường. Người đập tường, người đào gốc cây, người đào móng xây tường mới. Ông cho biết: Sáng nay nhà tôi vừa phải dỡ 58m tường bao để xây lùi lại vào sân nhà mình. Tiếc nhất là hai cây nhãn cổ thụ trồng từ hồi chống Mỹ giờ phải đào cả gốc lên. Thấy cũng tiếc nhưng nghĩ đường xóm mình rộng ra, sạch hơn, ô tô vào tận cửa nhà nên cũng mừng. Sân nhà mình hẹp đi, đường ngõ xóm mình rộng hơn cũng thấy sướng. Khi xây lại tường nhà mình mất hơn 10 triệu đồng mua vật liệu, còn công, bà con trong xóm giúp. Anh Quách Đình Chung- Trưởng xóm Chiềng 5 cho biết: thực hiện chủ trương xây dựng NTM về giao thông đường liên xóm. Con đường xóm trước đây 4,5 m giờ mở rộng lên 6 m. Để công bằng các hộ hai bên đường phải xây tường bao, công trình khác của gia đình vào trong sân. Chúng tôi tổ chức họp xóm vận động bà con hiến đất, hiến tài sản làm đường. Lúc đầu, nhiều nhà băn khoăn nhưng vận động nên họ cũng đồng tình. Nhiều nhà sau khi đập tường đi xây vào mất hàng chục triệu đồng. Mỗi hộ đóng góp một nhân công. Xóm thành lập 3 nhóm: nhóm dọn cây, nhóm phá tường và nhóm xây dựng tường.  Đoạn đường của xóm dài 170 m có 11 hộ phải tháo dỡ tường, chặt cây mở rộng đường. Nhiều hộ có tài sản lớn như cây cổ thụ lâu năm, tường rào xây kiên cố, tự nguyện tháo dỡ mở rộng thêm đường.

    Ông Quách Đình Khang nhà gần đó cho biết: Nhà tôi cũng phải dỡ 50 m tường rào để xây lại. Tuy mình thiệt hại ít đất, tiền mua vật liệu nhưng về lâu dài được lợi có con đường rộng chính mình đi. Sau này có ô tô vào tận nhà cũng sướng. Ủng hộ phong trào xây dựng NTM hiện tại các xóm Chanh Cả, Chanh Trên, Sống Dưới, Cốc đã triển khai tháo dỡ tường rào, công trình của gia đình để hiến đất, hiến tài sản để đường thông, hè thoáng đạt tiêu chuẩn NTM.

    Ruộng ít thửa, cấy nhanh hơn

    Từ năm 2006, Vĩnh Đồng là xã đầu tiên của huyện Kim Bôi triển khai dồn điền - đổi thửa để chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Ông Bùi Văn Tiến- Trưởng xóm Chiềng 3 cho biết: Cả xóm có 84 hộ canh tác trên diện tích gần 8 ha. Những năm trước, ruộng các hộ nhiều. Có khu khu ruộng có hộ tới 4 mảnh. Nếu tính mảnh, trung bình mỗi hộ từ 9-12 mảnh. Khi triển khai dồn điền - đổi thửa, hộ nhiều nhất chỉ có 4 mảnh. Khi mảnh ít đi, các hộ tiện canh tác, tập trung đầu tư, nhiều hộ chuyển hẳn sang trồng màu. Đến nay có 60 hộ trồng mía tím, ngoài ra còn trồng 2 ha củ đậu, 3 ha ngô … Thâm canh tăng năng suất cây lúa cũng được bà con chú trọng từ 50 tạ/ha lên đến 58 tạ/ha, có hộ đạt 100 tạ/ha. Thu nhập của bà con đạt trên 8 triệu đồng/năm/người. Nhiều hộ đạt trên 10 triệu đồng như hộ gia đình ông Bùi Văn Hùng dồn điền - đổi thửa chuyển đổi từ lúa sang trồng nhãn Lào Táo, đậu, lạc.. Gia đình ông Bùi Văn Lâm B trồng lúa xen trồng màu, củ đậu, dưa chuột… Không dừng lại ở đó, hiện bà con xóm Chiềng 3 đề xuất UBND xã trong thời gian tới dồn vào 1 mảnh ruộng. Có thể nói từ khi dồn điền - đổi thửa, đất ở Vĩnh Đồng không ngừng nghỉ. Đời sống của bà con cũng được nâng lên.

    Đồng chí Bùi Đức Òm, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã cho biết: Hưởng ứng chủ trương của huyện, tỉnh, 100% số hộ của 12 xóm đã tham gia. Trước đây, trung bình mỗi hộ có từ 6-9 mảnh ruộng, có mảnh cách nhau đến 3 km nhưng mảnh ruộng đó có khi chỉ 100- 200 m2. Đến nay, dồn điền - đổi thửa chỉ còn 3-4 mảnh. Từ khi số mảnh ruộng giảm đi, bà con chăm ra thăm đồng hơn, đầu tư nhiều hơn cho mảnh ruộng của mình. Trước đây, nhiều người nghĩ mảnh ruộng của mình nhỏ, bón phân cho lúa chỉ sợ trôi sang nhà khác. Giờ ruộng mình rộng hơn, bà con đầu tư gấp 3 lần trước. Do ít mảnh ruộng nên không phải di chuyển nhiều, bà con cũng cấy, gặt, chăm sóc lúa cũng nhanh hơn. Trước đây, theo kế hoạch của phòng NN&PTNT, xã triển khai cấy lúa từ 7-10 ngày mới xong, nay chỉ 3 ngày cả làm đất. Gặt lúa cũng vậy, chỉ 2-3 ngày là cả xã đã xong. Bà con cũng chăm ra thăm đồng hơn vì ít phải đi nên việc phát hiện, xử lý sâu bệnh nhanh hơn trước. Năng suất lúa cũng tăng lên từ trung bình 55 tạ lên 62 tạ/ha, có hộ còn đạt 80-90 tạ/ha. Trước đây chuyện trồng cây màu, vụ đông là chuyện xa xỉ ở Vĩnh Đồng vì nhiều người nghĩ diện tích nhỏ, trồng không bõ nhặt, nay ngoài đầu tư chăm sóc lúa ở những diện tích đất lúa, một vụ bà con chuyển sang trồng ngô, củ đậu, khoai tây, dưa chuột, củ đậu, lạc, cây ăn quả… Có diện tích chuyển hẳn sang trồng màu vì bà con tính nếu có nước, cấy lúa và vụ đông chỉ được 3 vụ. Trong khi đó trồng màu được 5 vụ thu hoạch nên hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều. Từ đó, đời sống của bà con được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo của xã hiện chỉ còn 7,9%, thu nhập bình quân đầu người đạt 10,08 triệu đồng, bình quân lương thực 484 kg/người, 100% tỷ lệ trẻ em đến trường. Tình hình an ninh ổn định. Triển khai xây dựng NTM xã được UBND tỉnh chọn là xã điểm trong 39 xã và 5 xã của huyện Kim Bôi. Hiện nay, xã đã đạt 5/19 tiêu chí, trong đó có tiêu chí đạt 100% như quy hoạch, điện lưới, giao thông, thủy lợi, hệ thống chính trị. Đến hết năm nay, xã phấn đấu đạt 5 tiêu chí nữa. đồng chí Bùi Đức Òm cho biết thêm: với sự đồng lòng của cấp ủy, chính quyền, nhân dân Vĩnh Đồng, con đường xây dựng NTM của xã sẽ sớm về đích.